Việc cha mẹ chia đất cho con khi con lập gia đình và ra ở riêng là điều thường thấy trong nhiều gia đình Việt Nam.
CÔNG TY LUẬT TLT – LIÊN ĐOÀN LUẬT SƯ VIỆT NAM
Tuy nhiên, sau khi cha mẹ mất: người con đã được chia đất có còn quyền thừa kế tài sản của cha mẹ hay không?
Tặng đất không đồng nghĩa với mất quyền thừa kế:
Khi cha mẹ còn sống, họ có thể tặng cho con quyền sử dụng đất như một hình thức chuyển giao tài sản. Việc này hoàn toàn dựa trên ý chí của cha mẹ và có thể là tặng toàn bộ hoặc một phần thửa đất. Tuy nhiên, điều quan trọng cần hiểu là: việc tặng đất không làm mất đi quyền thừa kế của người con sau này.
Vẫn có thể được thừa kế khi cha mẹ qua đời:
Theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2015, người con đã nhận đất vẫn “có thể” được thừa kế tài sản của cha mẹ khi họ qua đời, nếu cha mẹ vẫn còn sở hữu hợp pháp tài sản khác. Từ “có thể” ở đây mang tính điều kiện – nghĩa là không phải lúc nào cũng được thừa kế, mà còn tùy vào từng trường hợp cụ thể.
-
Thừa kế theo di chúc
Nếu cha mẹ có lập di chúc, thì việc thừa kế sẽ tuân theo nội dung trong đó. Có ba tình huống chính:
Di chúc ghi rõ quyền thừa kế của con:
Khi di chúc hợp pháp và ghi rõ người con được hưởng tài sản, thì người con sẽ được nhận phần di sản đó, trừ khi có người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc.
Di chúc cho người khác hưởng di sản:
Nếu cha mẹ để lại tài sản cho người khác, người con có thể không được hưởng gì, trừ khi thuộc nhóm người được bảo vệ theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:
- Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
- Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
- Con thành niên mà không có khả năng lao động.
- Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.
Không có tên trong di chúc nhưng vẫn được hưởng:
Nếu người con thuộc nhóm người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, họ vẫn có quyền nhận một phần di sản, dù không được nêu tên trong di chúc.
-
Thừa kế theo pháp luật
Nếu không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp, thì việc phân chia tài sản sẽ theo quy định pháp luật. Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015 nêu rõ:
- Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:
- Không có di chúc;
- Di chúc không hợp pháp;
- Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
- Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
- Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:
- Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;
- Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;
- Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Để được hưởng thừa kế theo pháp luật, người thừa kế phải:
Có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng với người mất
Thuộc hàng thừa kế hợp pháp (thứ nhất, thứ hai, thứ ba)
-
Tranh chấp dễ xảy ra nếu không có di chúc
Trong thực tế, nhiều gia đình có nhiều con, cha mẹ chia đất cho người ra ở riêng nhưng không lập di chúc để lại phần còn lại cho người con sống chung. Khi cha mẹ mất, nếu người con đã ra ở riêng không từ chối nhận di sản, thì người con sống cùng cha mẹ có thể bị thiệt thòi.